Chuyên đề " RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN TỰ SỰ NGỮ VĂN LỚP 8"

Thứ năm - 25/10/2018 07:10

Chuyên đề

Người báo cáo: Đoàn Thị Xuân

Thời gian báo cáo: tháng 9/2018

RÈN KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN TỰ SỰ NGỮ VĂN LỚP 8

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

1. Lí do chọn đề tài:

 Với một người giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ Văn lớp 8 bao giờ cũng muốn học trò của mình làm được những bài văn hay nhưng đó không phải là một việc dễ. Bài văn hay trước hết phải là viết đúng. Hay và đúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Bài văn hay trước hết phải viết theo đúng yêu cầu của đề bài, đúng những kiến thức cơ bản, hình thức trình bày đúng quy cách. Nhưng trong thực tế dạy – học tôi thấy bài văn của học sinh mình chưa đáp ứng được những yêu cầu của một văn bản trong nhà trường. Bài văn của các em vẫn còn hiện tượng sai đề, lệch đề do không chú ý đến việc tìm hiểu đề. Đoạn văn trong bài thường sai quy cách. Bên cạnh đó là việc giữa các đoạn văn chưa có sự liên kết.

  Cũng chính xuất phát từ đó tôi đã tiến hành tìm tòi nghiên cứu và vận dụng vào thực tế giảng dạy “Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài làm văn trong chương trình Ngữ văn lớp 8 tại trường THCS

  II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

     1: Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:

           1.1. Tìm hiểu đề (hay còn gọi là phân tích đề):

Để có một bài văn hoàn chỉnh người viết phải trải qua năm bước (Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết bài văn, đọc và sửa bài), trong đó tìm hiểu đề là bước thứ nhất. Kĩ năng tìm hiểu đề là kĩ năng định hướng cho toàn bộ quá trình thực hiện một bài tập làm văn. Tuy vậy đa số học sinh thường không chú ý đến bước này. Vì vậy trong quá trình làm bài các em thường sai đề hoặc lệch đề nên bài văn thường không có điểm cao.

Cũng chính vì lẽ đó hướng dẫn các em làm tốt bước này sẽ giúp học sinh tránh được việc sai đề, lệch đề. Từ đó bài văn sẽ tốt hơn.

Nắm được hạn chế đó của học sinh nên tôi luôn hướng dẫn học sinh thực hiện thao tác này và nó được lặp đi lặp lại ở mỗi bài viết cũng như trước các đề trong bài học. Trên cơ sở đó các em sẽ biến nó thành một kĩ năng cần thiết trước khi viết bài.

Để học sinh xem tìm hiểu đề là một bước không thể thiếu khi làm bài thì giáo viên phải giúp các em thành thạo bước này trong quá trình dạy học. Người giáo viên nên tận dụng thời gian để cho các em luyện tập.

Ví dụ:

Như ra đề rồi yêu cầu HS về nhà thực hiện, trước các bài viết số 1, số 2, trong các đề có trong SGK, …

Để giúp học sinh tìm hiểu đề, trước một đề bài tôi thường yêu cầu học sinh đọc nhiều lần (thậm chí yêu cầu học sinh đọc thuộc đề); lấy bút gạch chân những từ cần chú ý, chép lại đề với những ý có gạch đầu dòng để làm cho nổi bật các yêu cầu của đề; xác định ba yêu cầu của đề.

Kết quả của bước tìm hiểu đề phải giúp học sinh xác định được tất cả các yêu cầu của đề bài:

- Kiểu bài: Tự sự hay miêu tả, tường thuật hay giải thích, …

Lời yêu cầu về kiểu bài: theo lối trực tiếp – nói thẳng (như hãy kể … ) hay lời yêu cầu gián tiếp – nói vòng (như Em thấy mình đã khôn lớn … )

- Đề bài và giới hạn: học sinh cần tìm hiểu rõ qua từng từ ngữ để xác định giới hạn của đề bài. Chỉ một sơ suất nhỏ trong việc xác định giới hạn của đề bài cũng có thể dẫn các em từ tản mạn, xa đề đến lạc đề…

Ví dụ :

Cho đề bài: Em hãy kể lại một kỉ niệm sâu sắc thời thơ ấu.

Trước đề này có rất nhiều học sinh kể ra hai, ba kỉ niệm, không có kỉ niệm nào được kể một cách đầy đủ (nhưng đề yêu cầu kể một kỉ niệm).

 .Để khắc phục được khó khăn đó và cho học sinh thực hiện tốt bước này tôi đã kết hợp thời gian trên lớp, thời gian ở nhà của các em để hướng dẫn và cho các em thực hành.

Ví dụ 1:

Khi dạy xong tiết 8 – Bố cục của văn bản, trước khi đi vào làm bài tập trong SGK giáo viên có thể cho học sinh thực hiện bước này. Giáo viên treo bảng phụ có chép sẵn đề bài:

Em hãy kể lại một kỉ niệm sâu sắc trong thời thơ ấu của em.

Yêu cầu trả lời :

- Kiểu bài của mỗi đề là gì?

- Lời yêu cầu ở mỗi đề là trực tiếp hay gián tiếp?

- Nội dung của đề bài nằm trong giới hạn nào (kể về một hay nhiều kỉ niệm)?

- Lưu ý: Đọc thật kĩ đề bài, lấy bút  gạch dưới những từ ngữ quan trọng.

Ở đây do là tiết đầu hướng dẫn học sinh làm nên có thể cho các em tự tìm hiểu nhanh sau đó giáo viên hướng dẫn các em làm:Sau khi hướng dẫn các em thực hiện xong giáo viên có thể ra đề yêu cầu các em về nhà làm. Ở tiết học tiếp theo giáo viên xem bài các em làm và cho điểm (nếu làm tốt).

Ví dụ 2:

Khi dạy xong bài Xây dựng đoạn văn trong văn bản (tiết 13 – bài 3), giáo viên yêu cầu học sinh: Ngoài việc chuẩn bị để làm bài các em thực hiện trước bước tìm hiểu đề cho các đề có trong phần Viết bài tập làm văn số 1 – văn tự sự.

Tới tiết 11-12, trước khi viết bài giáo viên yêu cầu 1 hoặc 2 học sinh trình bày kết quả việc tìm hiểu đề rồi mới đi vào viết bài.

Học sinh trả lời :

Đề 1: Kể lại những kỉ niệm trong ngày đầu tiên đi học.

- Kiểu bài: kể (tự sự), yêu cầu trực tiếp.

- Giới hạn: những kỉ niệm trong ngày đầu tiên đi học (chỉ trong ngày đầu tiên mà thôi).

Đề 2. Người ấy (bạn, thầy, người thân, …) sống mãi trong lòng tôi.

- Kiểu bài: kể (tự sự), yêu cầu gián tiếp.

- Giới hạn: chỉ kể về một người thân (có thể là một kỉ niệm khó quên với người đó).

1.2. Viết đoạn văn trong văn bản tự sự :

Thế nào là đoạn văn? Đoạn văn là đơn vị cấu tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa lùi đầu dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo thành. Đoạn văn thường có câu chủ đề hoặc từ ngữ chủ đề. Ta thường có đoạn văn diễn dịch, quy nạp, song hành, …

Đoạn văn là đơn vị cấu tạo nên văn bản. Vì vậy viết tốt đoạn văn là một trong những điều kiện để có một bài văn hay.

Trong chương trình Ngữ văn 8, học sinh được học cách xây dựng đoạn văn ở tiết 13– Xây dựng đoạn văn trong văn bản, trong đó học sinh đã nắm được kiến thức về hình thức và nội dung của đoạn văn. Trên cơ sở bài này, các em đã có kiến thức về cách xây dựng đoạn văn. Từ đó tôi thường xuyên cho học sinh luyện tập nhận diện đoạn văn cũng như viết đoạn văn ở trên lớp và ở nhà.

Trước hết, sau khi học xong tiết 13 – Xây dựng đoạn văn trong văn bản giáo viên cho học sinh làm bài tập nhận điện đoạn văn. Đây là bước giúp học sinh nhận biết cũng như khắc sâu kiến thức về đoạn văn. Trong SGK Ngữ văn 8 có rất nhiều đoạn văn chuẩn, dựa vào ưu điểm này giáo viên cho học sinh làm bài tập nhận diện.

Ví dụ 1:

Sau khi dạy xong tiết 13 - Xây dựng đoạn văn trong văn bản, ở bước củng cố  nêu yêu cầu: các em xem đoạn văn b trong bài tập 1, phần luyện tập ở trang 26 và đoạn văn giới thiệu về Nam Cao trong phần chú thích ở trang 45 rồi xác định các đoạn văn đó được viết theo cách nào?

Học sinh trả lời:

- Đoạn văn ở trang 26 là đoạn văn viết theo lối diễn dịch (câu chủ đề nằm ở đầu đoạn), chủ đề là nói về vẻ đẹp huyền ảo trong ngày của Ba Vì.

- Đoạn giới thiệu về Nam Cao ở trang 45 được viết theo lối song hành (từ ngữ chủ đề là Nam Cao, ông), đối tượng là Nam Cao.

Học sinh trả lời được như vậy là đã nắm được “Thế nào là đoạn văn”. Trên cơ sở đó tôi cho học sinh đi vào thực hành kĩ năng viết đoạn văn.

 ).

Ví dụ 2:

Khi học xong văn bản Lão Hạc của Nam Cao (tiết 11 -12, bài 4) tôi cho học sinh bài tập về nhà: Về nhà mỗi em viết một đoạn văn nói về Lão Hạc – người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng tám (cho HS câu chủ đề: Lão Hạc là con người nghèo khổ nhưng lão có nhiều phẩm chất đáng quý.)

Tới tiết 17 – Liên kết đoạn văn trong văn bản, khi kiểm tra bài cũ xong, GV mời một HS trình bày đoạn văn của mình cho cô cùng cả lớp nghe rồi GV nhận xét. Cuối tiết học GV thu bài lại để về nhà chấm, nhận xét và sửa cho HS.

  1.3 Liên kết đoạn văn trong văn bản:

Một bài văn được tạo thành bởi nhiều đoạn văn liên kết lại với nhau. Bài văn là một chỉnh thể hoàn chỉnh nên giữa các đoạn văn cần có sự liên kết với nhau. Liên kết đoạn văn nhằm mục đích làm cho ý của cả đoạn vừa phân biệt nhau vừa liền mạch với nhau một cách hợp lí, tạo tính chỉnh thể cho văn bản. Muốn vậy, phải tạo mối quan hệ ngữ nghĩa chặt chẽ, hợp lí giữa các đoạn văn với nhau và sử dụng các phương tiện liên kết phù hợp.

Trong chương trình ngữ văn 8 học sinh đã được học “Liên kết các đoạn văn trong văn bản” ở tiết 17, bài 4.

Trên cơ sơ bài học này giáo viên hướng dẫn học sinh thực hành việc liên kết đoạn văn do các em tạo ra.

Trước hết giáo viên cho học sinh làm bài tập nhận diện các phương tiện liên kết đoạn văn.

Ví dụ :

Khi dạy xong bài Liên kết các đoạn văn trong văn bản - tiết 17, bài 4, giáo viên yêu cầu: về nhà các em đọc văn bản Cô bé bán diêm (An - đéc - xen) ở trang 64. Sau đó xác định các từ ngữ và câu có tác dụng nối giữa các đoạn văn trong văn bản đó.

Tới tiết 19, bài 5 - Tóm tắt văn bản tự sự, trong phần kiểm tra bài cũ, giáo viên mời học sinh trình bày (giáo viên kết luận) những từ ngữ, câu có tác dụng nối như:

- Em quẹt que diêm thứ hai,…

- Em quẹt que diêm thứ ba.

- Em quẹt que diêm nữa vào tường, …

- Thế là …

- Sáng hôm sau,

- Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy ….

Việc viết các đoạn văn có sự liên kết với nhau đối với học sinh trung bình và yếu là tương đối khó. Cho nên trong quá trình dạy tôi luôn có những đoạn văn mẫu cho các em. Bên cạnh đó là bài của các em học sinh khá giỏi. Đồng thời luôn khích lệ tinh thần cho các em.

Ở dạng bài này, giáo viên vừa cho học sinh luyện tập ở trên lớp vừa cho các em về nhà làm (giáo viên phải thu vở bài tập rồi chấm và sửa cho học sinh).

Ví dụ :

Ở bài Miêu tả và biểu cảm trong văn bản tự sư (tiết 25, bài 6), khi dạy đến phần luyện tập, giáo viện cho học sinh làm bài tập 1 và đọc phần đọc thêm ở trên lớp. Còn bài tập 2 - “viết một đoạn văn kể về những giây phút đầu tiên khi em gặp lại một người thân”  thì giáo viên cho học sinh về nhà làm. Giáo viên yêu cầu học sinh viết thành 2 đoạn văn đoạn trong đó có các phương tiện liên kết.

Đến tiết 28, bài 7 - Luyện tập viết đoạn văn tự sự kết hợp với miêu tả và biểu cảm, giáo viên mời 2 học sinh trình bày bài của mình rồi giáo viên nhận xét. Sau đó thu bài về nhà chấm và sửa cho học sinh.

 Ví dụ :

Học xong văn bản Lão Hạc của Nam Cao (tiết 11 -12, bài 4), học sinh biết rằng chị Dậu và lão Hạc là những con người tiêu biểu cho tầng lớp nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng 8. Giáo viên có thể cho học sinh viết hai đoạn văn nói về số phận và tính cách của người nông dân (thông qua lão Hạc và chị Dậu).

Có thể nói rằng để viết được một bài văn đúng và hay là rất khó, bởi ngoài việc có kiến thức vững vàng nó còn đòi hỏi người viết phải vận dụng nhiều kĩ năng khác nhau. Nhìn chung các kĩ năng đó các em đã được học nhưng do đặc điểm lứa tuổi, cũng như thời gian thực hành còn hạn chế nên người giáo viên phải có biện pháp giúp các em thành thạo những kĩ năng đó mới mong các em vận dụng tốt được.

 III. KẾT LUẬN:

. Để viết tốt một bài văn , học sinh phải trải qua quá trình rèn luyện nghiêm túc có sự hướng dẫn của giáo viên.Trong quá trình dạy, giáo viên giúp học sinh nhớ lại những kiến thức cũ  về văn tự sự đã học ở lớp 6 bằng các tình huống có vấn đề trong các tiết lí thuyết.

Để áp dụng có hiệu quả những biện pháp này, người giáo viên  thực sự tâm huyết, có tinh thần trách nhiệm, dành thời gian nhiều. Do học sinh phải thực hiện phần bài tập ở nhà nhiều nên giáo viên phải thu vở bài tập về nhà để chấm, sửa cho các em.

Giáo viên thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, theo dõi quá trình học sinh làm bài. Điều quan trọng là giáo viên biết động viên, khuyến khích, tuyên dương học sinh đúng lúc, kịp thời. Bên cạnh đó, với học sinh điểm số rất quan trọng nên khi chấm bài tập hoặc khi các em trình bày thì giáo viên nên cho học sinh điểm số và có điểm cho tinh thần tự giác.

Nếu giáo viên làm tốt điều đó thì các em sẽ rất tự giác và có hứng thú làm bài tập ở nhà cũng như trên lớp. Trong trường hợp giáo viên có quên thu bài thì cũng sẽ được các em “nhắc nhở”.

Bên cạnh việc động viên, khuyến khích, giáo viên cũng cần có biện pháp đối với những học sinh còn có tư tưởng trông chờ, ỷ lại như yêu cầu các em ở lại sau buổi học để làm bài tập, mượn bài của bạn chép lại nhiều lần …

   TẢI VỀ TẠI ĐÂY

 

 

 

 

 

 

 

 

          

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

 

Những tin cũ hơn

Giới thiệu

Giới thiệu khái quát về trường

    Trường THCS Lưu- Vĩnh- Bắc Sơn đóng trên địa bàn xã Thạch Vĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh 7 km. Đảng bộ và chính quyền địa phương ba xã  rất quan tâm, có kinh nghiệm chỉ đạo công tác giáo dục và đã thật sự đầu tư cho sự nghiệp giáo dục. Trường có khuôn viên 24800m2,...

Loading the player...
Đăng nhập thành viên
 
 

Đăng nhập bằng OpenID Đăng nhập bằng OpenID

Thăm dò ý kiến

Bạn là đối tượng nào?

Khuyến học
Bien Dao
Cổng TTĐT Hà Tĩnh
Chinh phu
Âm lịch
Tháng
Năm 
Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 9
 
  •   Hôm nay 505
  •   Tháng hiện tại 57,964
  •   Tổng lượt truy cập 10,471,364
Ðừng để tính tự phụ và tự kỷ làm bạn nghĩ rằng người ta sẽ trở thành bạn bè của mình ngay lần đầu gặp gỡ. Tình bạn đích thực phải được chậm rãi vun trồng.Lord Chesterfield