Chuyên đề "“ Sử dụng phương pháp thảo luận về các hiện tượng thực tế vào bài dạy nhằm nâng cao tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập môn Vật lý”

Thứ năm - 18/02/2016 15:34

Vật lí là môn khoa học thực nghiệm, kiến thức vật lí gắn kết một cách chặt chẽ với thực tế đời sống. Tuy nhiên đối với đại đa số học sinh hiện nay, việc vận dụng kiến thức vật lí vào đời sống còn rất nhiều hạn chế nếu không muốn nói là thực sự yếu kém. Nội dung chuyên đề này tập trung đề cập đến Sử dụng phương pháp thảo luận về các hiện tượng thực tế vào bài dạy nhằm nâng cao tính tích cực, tự lực của học sinh trong học tập môn Vật lý nhằm phần nào giải quyết những hạn chế nêu trên.

1. Nhận thức vấn đề

Việc vận dụng các hiện tượng vật lý trong thực tế vào bài giảng có thể được thực hiện bằng nhiều cách khác nhau tùy theo nội dung bài giảng, trình độ học sinh và thời điểm giảng dạy.

 Có thể sử dụng các biện pháp sau:

- Khi kiểm tra bài cũ có thể sử dụng một số câu hỏi có liên quan đến thực tế trong bài học trước để hỏi học sinh xem các em nắm bài tới đâu, hiểu vấn đề đó như thế nào.

- Nêu một số hiện tượng trong thực tế các em có thể bắt gặp để dẫn dắt vào bài. Có thể kể một câu chuyện vui, thực tế về vấn đề có liên quan đến bài sắp học, chơi trò chơi trước khi vào bài.

- Đưa vào tiết học một vài câu hỏi thảo luận về hiện tượng thực tế các em có thể gặp và giải thích được bằng kiến thức vừa học. Một số câu hỏi nhỏ lấy điểm khuyến khích. Điều này sẽ làm các em chủ động bày tỏ ý kiến, quan điểm của mình về vấn đề đó, kích thích tư duy, tích cực trong học tập.

- Hướng dẫn các em làm một số thí nghiệm vui, dễ làm bằng những dụng cụ dễ tìm trong đời sống, dụng cụ phế thải. Tập cho cho các em làm và giải thích một số các hiện tượng, thí nghiệm nhỏ trong đời sống bằng các kiến thức vật lý đã học.

- Đặt một số câu hỏi củng cố bài có liên quan thực tế, các câu hỏi dẫn dắt, hướng dẫn các em chuẩn bị trước bài mới.

-Tăng cường các câu hỏi kiểm tra, thi học kì gắn liền với đời sống, thực tế để các em vận dụng kiến thức, hiểu kiến thức để trả lời. Việc này sẽ giúp các em khắc sâu kiến thức, làm bài hiệu quả hơn.

                2.  Sử dụng phương pháp thảo luận

Đây là một phương pháp khá hay và mang tính hiện đại. Phương pháp giúp học sinh bày tỏ quan điểm, thái độ, ý kiến của mình và lắng nghe ý kiến của người khác . Qua phương pháp dạy học này giáo viên có thể giúp học sinh nhận thức đúng đắn về các hiện tượng vật lý xung quanh mình. Việc thảo luận có thể được tiến hành cả lớp hoặc theo nhóm.

2.1. Thảo luận nhóm:

Đây là phương pháp giáo dục có nhiều ưu điểm. Khi tổ chức thảo luận, giáo viên chuẩn bị trước cho học sinh một số câu hỏi hoặc hình ảnh kèm câu hỏi để thảo luận, phiếu học tập và các đồ dùng cần thiết. Vận dụng phương pháp hoạt động nhóm, giao nhiệm vụ cho các nhóm qua hệ thống câu hỏi, các nhóm thảo luận, báo cáo kết quả thảo luận nhóm, tổng kết của giáo viên.

2.2.Thảo luận cả lớp:

Phương pháp này ít ưu điểm hơn, giáo viên khó có điều kiện theo dõi học sinh cả lớp, nhưng cũng mang lại hiệu quả nếu vận dụng hợp lí. Giáo viên sẽ nêu câu hỏi bằng bảng phụ, phiếu học tập hoặc máy chiếu để cả lớp theo dõi, cho các em suy nghĩ và trình bày cá nhân. Phương pháp này có thể vận dụng trong quá trình giảng dạy bài mới, tìm hiểu phần mới.

         3. Một số câu hỏi, hiện tượng có thể vận dụng để thảo luận

 

VẬT LÝ 6

Câu 1: Em hãy kể tên các mặt phẳng nghiêng trong thực tế? (Áp dụng vào bài: Mặt phẳng nghiêng)

 

Trả lời

- Cầu trượt trong vườn trẻ

- Bến sông, bến phà

- Đường đèo, dốc

- Cầu thang lên nhà tầng

- Cối giã gạo nhờ sức nước

- Cái kìm, cái kéo cắt giấy

- Con lật đật

- Cân đòn

        Câu 2: Em hãy nêu ứng dụng của đòn bẩy ? (Áp dụng vào bài : Đòn bẩy)

Trả lời

- Barie chắn cổng ra vào các cơ quan

 

Câu 3: Em hãy nêu cấu tạo và phân tích tác dụng của ròng rọc kéo Quốc kì ở cột cờ?(Áp dụng vào bài : Ròng rọc)

Trả lời

- Cấu tạo: Gồm một ròng rọc cố định trên đỉnh cột cờ và một sợi dây vắt qua ròng rọc

- Phân tích tác dụng: Khi kéo cờ lên, nếu không tính đến ma sát của ròng rọc thì sức căng hai bên của ròng rọc là như nhau. Do đó, trường hợp này ròng rọc chỉ có tác dụng làm đổi hướng của lực, tức là đáng lẽ phải kéo cờ lên ở đầu dây bên này thì ta lại chỉ cần lực kéo xuống ở đầu dây bên kia.

Câu 4: Vì sao nhiệt kế đo được nhiệt độ ? (Áp dụng vào bài: Sự nở vì nhiệt của chất lỏng)

Trả lời: Nhiệt kế là một ống thủy tinh hai đầu bịch kín ở một đầu của nhiệt kế có chứa đầy thủy ngân khi nhiệt độ xung quanh tăng lên, thủy ngân trong ống thủy tinh cũng nóng lên và giãn nở thể tích, nó sẽ theo ống thủy tinh mà dâng lên Khi nhiệt độ xung quanh hạ thấp, thủy ngân trong ống thủy tinh co lại, thủy ngân cũng theo ống mà rút xuống. Trên ống thủy tinh người ta chia nhiều vạch, thủy ngân có ánh bạc dâng đến vạch bao nhiêu độ tức là nhiệt độ của môi trường xung  quanh nhiệt kế bằng chừng ấy độ.

 

Câu 5: Tại sao bong bóng để ngoài nắng một thời gian sau sẽ tự động bị nổ? (Áp dụng vào bài: Sự nở vì nhiệt của chất khí)

Trả lời: Bong bóng để ngoài nắng một thời gian sau sẽ tự động bị nổ do không khí bên trong bong bóng nở ra khi bị ánh nắng Mặt Trời chiếu vào.

Câu 6: Tại sao vào mùa hè săm xe thường bị nổ? (Áp dụng vào bài : Sự nở vì nhiệt của chất khí)

Trả lời: Khi để xe đạp ngoài trời đang nắng gắt thì một thời gian bánh xe sẽ căng phồng lên thậm chí có thể bị nổ vỏ xe do không khí bên trong ruột xe nở ra.

VẬT LÝ 7

Câu 1: Đom đóm có phải là nguồn sáng không? Vì sao? (Áp dụng vào bài : Nhận biết ánh sáng - nguồn sáng và vật sáng)

         Trả lời: Đom đóm là nguồn sáng vì nó có khả năng tự phát ra ánh sáng.

 

       Câu 2: Ánh sáng có truyền trong chân không không? Hãy cho ví dụ để minh họa câu trả lời của em. (Áp dụng vào bài : Sự truyền ánh sáng)

Trả lời: Ánh sáng truyền được trong chân không, vì vậy ánh sáng Mặt Trời đi đến được Trái Đất ( Giữa Mặt Trời và Trái Đất là chân không)

Câu 3: Tại sao:

- Ở các phòng học, người ta thường dùng các bóng đèn dài?

- Ở các phòng giải phẫu ở bệnh viện, người ta thường dùng một hệ thống gồm nhiều đèn?

(Áp dụng vào bài : Ứng dụng định luật truyền thẳng của ánh sáng)

Trả lời: Dùng bóng đèn dài hoặc nhiều bóng đèn để thắp sáng sẽ tránh được vùng bóng tối.

Câu 4: Để quan sát các phần bị che khuất của răng, các nha sĩ thường dùng một dụng cụ hình tròn bằng kim loại. Theo em đó là một gương phẳng, gương cầu lồi hay gương cầu lõm? (Áp dụng  vào bài : Gương cầu lõm)

Trả lời: Đó là gương cầu lõm, dùng để tạo ảnh lớn hơn vật để dễ quan sát chi tiết nhỏ trong răng.

Câu 5: Tại sao sau một tiếng nổ lớn ( tiếng sấm chẳng hạn) ta thường nghe tiếng rền kéo dài? (Áp dụng vào bài: Phản xạ âm – tiếng vang)

Trả lời: Sau khi nổ, sẽ có tiếng nổ đi trực tiếp từ nơi nổ đến tai. Một số âm thanh khác phản xạ từ nhà cửa, rừng núi, mặt đất đến tai sau đó, vì vậy tiếng rền là tiếng của âm phản xạ.

VẬT LÝ 8

Câu 1: Tại sao khi vấp hòn đá thì ta bị ngã về phía trước? (Áp dụng vào bài : Sự cân bằng lực – quán tính)

Trả lời: Vấp đá bị ngã nhào về trước khi mà trọng tâm đã vượt qua mặt phẳng thẳng đứng đi qua hòn đá ( vấp chân sau ) khi đó lực cản của đá giữ chân lại trong khi phần trên của cơ thể có quán tính chuyển động tới    ngã nhào ra trước

Câu 2: Tại sao khi bị trượt vỏ chuối ta lại bị ngã về phía sau? (Áp dụng vào bài 6: Lực ma sát)

Trả lời: Khi trượt vỏ chuối, ta bị ngã ra phía sau. Khi đạp vỏ chuối ở chân trước, trong điều kiện bình thường thì bàn chân trước đạp xuống đất thì có lực ma sát nghỉ giữ bàn chân lại không cho trượt tiếp về phía trước và lực ma sát nghỉ có vai trò phát động cho cơ thể. Khi gặp vỏ chuối thì ma sát giảm => chân bị trượt về phía trước => người ngã về sau.

Câu 3: Băng bằng phẳng và băng mấp mô, thứ nào trơn hơn? (Áp dụng vào bài: Áp suất)

Trả lời

- Theo lý thuyết, cùng một vật đè nặng lên diện tích càng nhỏ, thì áp suất nó gây ra càng mạnh. Vậy thì, người trượt băng sẽ tác dụng lên trên đế tựa một áp suất lớn hơn khi đứng trên băng phẳng lỳ hay khi đứng trên băng mấp mô? Rõ ràng là khi đứng trên băng mấp mô. Bởi vì ở đây, họ chỉ đè lên một diện tích rất nhỏ chỗ nhô lên hay lồi ra của mặt băng mà thôi. Mà áp suất trên băng càng lớn, thì băng tan càng nhanh, và do đó băng càng trơn (nếu đế giày đủ rộng).

- Nếu đế hẹp thì những điều giải thích trên không thích hợp nữa. Vì trong trường hợp đó, đế tựa sẽ khía sâu vào những chỗ băng nhô ra, và lúc này, năng lượng chuyển động đã bị tiêu hao vào việc khía băng.

Câu 4: Nước ngọt trong chai tại sao khi mở nắp lại có bọt ? (Áp dụng vào bài : Áp suất khí quyển)

            Trả lời: Trong nhà máy sản suất nước ngọt, người ta dùng áp suất mạnh để ép khí cacbonic vào trong nước ngọt. Sau đó, đóng vào chai đậy kín nắp lại. Như vậy chai nước ngọt đã làm xong. Khi mở nắp chai để uống, do áp suất của khí cacbonic ở trong chai lớn, áp suất không khí bên ngoài (áp suất khí quyển) nhỏ hơn, vì thế khí cacbonic sẽ thoát ra ngoài, lúc đó sẽ thấy rất nhiều bọt khí nổi lên.

Câu 5: Tại sao vào mùa đông sờ vào sắt lại thấy lạnh hơn khi sờ vào gỗ? (Áp dụng vào bài: Dẫn nhiệt)

Trả lời: Sắt (kim loại) dẫn nhiệt tốt hơn gỗ (phi kim).

VẬT LÝ 9

Câu 1: Dùng băng lấy lửa thế nào? (Áp dụng vào bài: Thấu kính hội tụ)

Trả lời

- Có thể dùng băng làm thấu kính hội tụ sinh lửa. Giả sử bạn bị lạc lên một băng đảo và quên mang theo diêm hoặc bật lửa. Xung quanh chỉ có băng tuyết và những cành củi khô. Lúc ấy, có thể bạn sẽ phải dùng băng lấy lửa. Thế nhưng băng là nước hóa đặc ở nhiệt độ rất thấp, làm sao có thể sinh lửa được? Ở đây bạn phải sử dụng một nguyên lý trong quang học, đó là kính lồi có thể hội tụ ánh sáng. Người ta có thể đắp băng thành những chiếc kính lồi lớn, trong suốt, rồi đặt nghiêng hứng ánh nắng mặt trời. Khi ánh sáng đi qua chiếc "kính băng" này, nó sẽ không hâm nóng băng, mà năng lượng được tụ lại vào một điểm nhỏ.

- Nếu chiếc kính băng rộng 1 mét và dày khoảng 30 centimet, thì năng lượng ánh sáng mặt trời mà nó hội tụ có thể đủ lớn để đốt cháy một đám củi khô. Nhà văn viễn tưởng Jule Verne đã dựa trên nguyên lý này để viết ra cuốn truyện phiêu lưu "Cuộc du lịch của viên thuyền trưởng Hatterat" mà trong đó, các nhân vật trong truyện đã dùng thấu kính băng lấy lửa ở nhiệt độ - 48 độ C.

Câu 2: Tại sao máy ảnh lại chụp được ảnh? (Áp dụng vào bài: Sự tạo ảnh trên phim trong máy ảnh)

            Trả lời: Máy ảnh giống như một căn phòng tối nhỏ, phía trước gắn một ống kính để thu ánh sáng. Ánh sáng chiếu hình ảnh cần chụp vào tấm phim phủ thuốc cảm quang gắn trong máy ảnh, tấm phim nhận được ánh sáng chiếu vào và sao lưu cái bóng của "nhân vật". Sau đó, lại đem cái bóng chiếu lên giấy in ảnh thu được hình ảnh. Rồi dùng một loại thuốc đặc biệt rửa cho hết thuốc cảm quang, ta sẽ thu được tấm ảnh đẹp và sinh động.

Câu 3: Nhìn bằng hai mắt có lợi gì hơn nhìn một mắt? (Áp dụng vào bài: Mắt)

Trả lời:

- Người ta có hai con mắt không phải do tạo hoá muốn người ta trông nhìn nhiều hơn ăn, nói. Tác dụng của sự nhìn bằng hai mắt, là cho ta cảm giác về độ sâu, về hình nổi.

- Hai mắt cách nhau một khoảng 5-6cm. Khi nhìn một vật bằng cả hai mắt, hai ảnh phối cảnh của vật trên võng mạc của hai mắt hơi khác nhau một chút. Khi thần kinh thị giác của hai mắt “chập” hai cảm giác thu được với mỗi mắt, thành cảm giác chung về hình ảnh của vật, thì hai cảm giác không “chập” hoàn toàn, và do đó cho ta cảm giác về độ sâu về hình nổi.

Câu 4: Cuộc sống trong mắt người cận thị ? (Áp dụng vào bài : Mắt cận và mắt lão)

Trả lời

- Ban đêm, đối với người cận thị, hết thảy những vật sáng như đèn đường phố, đèn trong nhà… đều trở nên lớn vô cùng, những bóng đen mờ ảo không có hình dáng. Họ không nhận ra những chiếc ô tô phóng lại gần mà chỉ thấy hai vùng sáng chói lòa (hai đèn pha ô tô), đằng sau là một khối tối om.

- Bầu trời đêm đối với người cận thị cũng khác xa so với người thường. Họ chỉ có thể thấy những ngôi sao lớn nhất mà thôi. Do đó, đáng lẽ là hàng nghìn ngôi sao thì họ chỉ thấy được độ mấy trăm. Qua mắt họ, những ngôi sao ấy giống như những quả cầu sáng khổng lồ, còn mặt trăng rất to và gần, trăng lưỡi liềm thì là một hình dạng rất phức tạp, kỳ quái.

- Nguyên nhân của tất cả những hiện tượng trên là do sai sót trong cấu tạo của mắt người cận thị. Mắt họ quá sâu, đến nỗi những tia sáng mà nó thu được phát ra từ mỗi điểm trên vật thể không sao hội tụ được ở đúng võng mạc, mà lại hội tụ trước võng mạc. Do đó, tia sáng khi rọi tới võng mạc ở đáy mắt thì đã phân tán mất rồi, nên chỉ tạo thành một ảnh rất lờ mờ trên võng mạc.

        Trên đây là một số ví dụ mà tôi đã áp dụng thành công trong quá trình giảng dạy môn Vật lý của mình. Rất mong sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng  giảng dạy môn Vật lý nói riêng và chất lượng giáo dục toàn diện nói chung, đáp ứng dược yêu cầu và nhiệm vụ trong sự nghiệp phát triển của địa phương, của đất nước trong thời đại mới.

                                                 Tôi xin chân thành cảm ơn!

 

                                                                    Thạch Vĩnh, tháng 02 năm 2016

 

Tác giả bài viết: Lê Thị Hồng Phong


 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Những tin cũ hơn

Giới thiệu

Giới thiệu khái quát về trường

    Trường THCS Lưu- Vĩnh- Bắc Sơn đóng trên địa bàn xã Thạch Vĩnh, cách thành phố Hà Tĩnh 7 km. Đảng bộ và chính quyền địa phương ba xã  rất quan tâm, có kinh nghiệm chỉ đạo công tác giáo dục và đã thật sự đầu tư cho sự nghiệp giáo dục. Trường có khuôn viên 24800m2,...

Loading the player...
Đăng nhập thành viên
 
 

Đăng nhập bằng OpenID Đăng nhập bằng OpenID

Thăm dò ý kiến

Bạn là đối tượng nào?

Khuyến học
Bien Dao
Cổng TTĐT Hà Tĩnh
Chinh phu
Âm lịch
Tháng
Năm 
Thống kê truy cập
  •   Đang truy cập 27
 
  •   Hôm nay 379
  •   Tháng hiện tại 28,028
  •   Tổng lượt truy cập 5,581,442
Chỉ có thời gian, chứ không phải lý luận, là có thể chữa được những vết thương lòng do ái tình gây ra.P. Syrus